Một lối sống
Tuy nhiên, những “mệnh lệnh” yêu mến Thiên Chúa và yêu thương những người chung quanh thực ra không hẳn là những “mệnh lệnh”. Tình yêu chỉ thực sự là tình yêu khi được trao ban cách tự do và tự nguyện. Điều Đức Giêsu đề nghị không chỉ là những mệnh lệnh hay quy tắc, mà là cả một cách sống và cách xây dựng các mối tương quan với tha nhân.
Chỉ có một “điều răn”, gồm hai phần không thể tách rời. Từ then chốt là “yêu thương”, nhưng thực ra có ba chiều kích của tình yêu: yêu mến Thiên Chúa, yêu thương tha nhân và yêu thương chính mình. Xét đến cùng, tình yêu đối với Thiên Chúa, nguồn mạch của mọi hiện hữu và sự sống, phải đứng hàng đầu. Từ đó, như một hệ quả tự nhiên, phát sinh tình yêu đối với tất cả những người được Thiên Chúa dựng nên và có Người ngự trong mình. Vì họ được Người yêu thương, nên tôi cũng phải yêu thương họ. Sau cùng là tình yêu đối với chính mình. Tôi cũng xứng đáng được yêu thương.
Đảo ngược thứ tự
Điều có vẻ lạ là để thực hành những chiều kích tình yêu ấy cách hữu hiệu, có lẽ chúng ta phải đảo ngược thứ tự: từ yêu thương chính mình, đến yêu thương tha nhân, rồi cuối cùng đến yêu mến Thiên Chúa.
Theo một nghĩa nào đó, tình yêu căn bản nhất là tình yêu đối với chính mình. Tin Mừng hôm nay nói:
Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.
Một mặt, chúng ta có thể nghĩ đây là một mệnh lệnh không cần thiết. Có ai lại không yêu bản thân, không nghĩ đến mình và không lo cho hạnh phúc của mình? Nhưng mặt khác, chúng ta đã nhiều lần được dạy rằng đừng yêu bản thân, đừng ích kỷ và lấy mình làm trung tâm. Và dường như rất nhiều người thực sự chẳng yêu thương chính mình bao nhiêu. Không ít người thậm chí còn căm ghét bản thân, và rất nhiều người thiếu lòng tự trọng, không nhận ra giá trị của mình. Họ chẳng mấy yêu thích con người họ nhìn thấy trong gương.
Nhiều người âm thầm không thích chính mình và rất sợ người khác biết được con người thật của họ như chính họ đang nhìn nhận. Tại sao chúng ta tiêu tốn quá nhiều tiền bạc cho quần áo, trang điểm, diện mạo và hình ảnh bên ngoài? Ngành mỹ phẩm là một ngành công nghiệp khổng lồ với doanh thu hàng tỷ đô la. Tại sao nhiều người chạy theo những biểu tượng địa vị khác nhau để chứng tỏ mình đã “thành đạt”? Khu phố tôi sống, kiểu xe tôi đi, quần áo và các phụ kiện tôi mang — tất cả đều được lựa chọn kỹ lưỡng để nâng cao hình ảnh của tôi, khiến tôi trông có vẻ tốt đẹp hơn con người mà tôi thực sự cảm nhận về mình. Rất nhiều quảng cáo nhắm vào chính nỗi sợ thầm kín ấy.
Tại sao chúng ta sợ để người khác biết con người thật của mình? Tại sao chúng ta ngại đứng trước đám đông, đặt câu hỏi trong một cuộc họp hay phát biểu trước mọi người? Tại sao người ta cứ tìm kiếm những biểu tượng địa vị để có vẻ quan trọng hơn trong xã hội?
Chúng ta biết nhiều người say mê “hàng hiệu” đến mức nào. Có câu chuyện kể rằng một người đàn ông đặt may một bộ com-lê tại một cửa hàng nổi tiếng chuyên may đồ giá rẻ. Khi ông đến lấy, người thợ may kéo một ngăn tủ ra, trong đó có đủ các nhãn hiệu nổi tiếng nhất. Ông hỏi: “Ông thích nhãn hiệu nào?” Thế là người đàn ông bước ra, mặc một bộ com-lê rẻ tiền nhưng có nhãn hiệu danh giá được may nổi bật trên cổ tay áo. Liệu nhờ vậy mà ông bước đi có vẻ hãnh diện hơn chăng? Còn những chiếc đồng hồ giả các thương hiệu đắt tiền được bày bán trên vỉa hè tại một số thành phố lớn thì sao?
Tại sao nhiều người cố hòa mình vào đám đông? Tại sao nhiều người tìm cách trốn chạy vào rượu và ma túy? Tại sao nhiều người, nhất là người trẻ, thậm chí còn tự hủy hoại mình bằng cách kết liễu cuộc đời? Trong một thế giới dư thừa của cải, với vô số phương tiện giải trí và hưởng thụ, tại sao tỷ lệ tự tử ở tuổi thiếu niên lại cao như vậy? Theo cách lý giải của tác giả, xét đến cùng, đó là vì quá nhiều người không yêu thương hoặc không thể yêu thương chính mình; và đáng buồn thay, họ nghĩ rằng cũng chẳng có ai thực sự yêu thương hoặc có thể yêu thương họ.*
Yêu thương tha nhân
Nếu chúng ta gặp khó khăn trong việc yêu thương chính mình, chúng ta cũng sẽ khó mở lòng yêu thương người khác. Chúng ta sẽ quá bận tâm lo lắng không biết người khác có yêu thương mình hay không, hoặc ít ra có yêu thích vẻ bề ngoài mà mình thể hiện trước họ hay không. Và quả thực, điều ấy đang diễn ra. Chủ nghĩa cá nhân lan tràn. Tự do có nghĩa là “cứ làm theo ý mình”, mặc kệ tất cả những người khác, ngoại trừ một số ít người quanh ta có thể giúp ta cảm thấy mình có giá trị hơn.
Điều ấy thậm chí còn ảnh hưởng đến cách chúng ta thường cư xử trong nhà thờ, khi ý thức cộng đoàn rất mờ nhạt. Bạn biết được bao nhiêu người chung quanh mình — trong nhà thờ hay tại khu phố? Bạn đã từng làm gì cho họ? Và họ đã từng làm gì cho bạn?
Khi yêu thương chính mình, tôi đón nhận trọn vẹn con người thật của mình: nhìn nhận cả những phẩm chất tốt đẹp lẫn những thiếu sót, và không tìm cách che giấu chúng trước người khác. Tôi không còn quá bận tâm người ta nghĩ gì về mình. Đó thực sự là vấn đề của họ, chứ không phải của tôi. Nhờ vậy, tôi có nhiều thời gian để nghĩ đến họ và những nhu cầu của họ. Khi ấy, tôi được tự do mở lòng và quan tâm đến hạnh phúc của người khác. Tôi có thể bắt đầu yêu người thân cận như chính mình, và bởi vì tôi yêu thương chính mình.
Yêu mến Thiên Chúa
Rồi đến việc yêu mến Thiên Chúa. Thưa với Người: “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa” là một trong những điều dễ dàng nhất trên đời. Nhưng thật khó nói đến việc yêu mến Thiên Chúa cách thiết thực nếu tôi chưa thực sự có kinh nghiệm về tình yêu, về việc yêu thương người khác và được người khác yêu thương. Chỉ khi có kinh nghiệm ấy, tôi mới có thể bắt đầu nhận ra rằng Thiên Chúa hiện diện trong mọi trải nghiệm yêu thương chân thật. Người ta vẫn nói: “Ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa.” Toàn bộ cuộc đời tôi có thể được sống trong một biển tình yêu, nơi tình yêu được trao ban và đón nhận.
Chính khi ấy, điều răn của Đức Giêsu bắt đầu được thực hiện. Tôi dần ý thức rằng khi được một người khác yêu thương sâu đậm, tôi cũng đang thực sự cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa. “Ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa” — mọi tình yêu chân thật đều biểu lộ sự hiện diện của Người.
Phần lớn thời gian, Thiên Chúa bày tỏ tình yêu dành cho tôi qua những người bước vào cuộc đời tôi. Người yêu thương tôi khi họ yêu thương tôi; và tôi yêu mến Người khi tôi yêu thương họ. Cuối cùng, không có ba thứ tình yêu, mà chỉ có một tình yêu duy nhất.
Con người này — chính là tôi — với tất cả những điểm mạnh và những yếu đuối, con người mà tôi đã học cách hoàn toàn an lòng đón nhận, sống một cuộc đời yêu thương và được yêu thương. Ở trung tâm của tất cả là Thiên Chúa, nguồn mạch mọi tình yêu.
Sau cùng, cần nói rằng tình yêu này không nhất thiết là một tình yêu mang tính cảm xúc hay lãng mạn. Như bài đọc I cho thấy, đó là tình yêu đòi hỏi chúng ta đối xử với từng người bằng lòng tôn trọng sâu xa, sự công bằng và lòng trắc ẩn. Tình yêu ấy vươn tới cả những người cư xử tồi tệ hoặc muốn làm hại tôi. Đó là ước muốn sâu thẳm mong cho mỗi người được hưởng điều thực sự tốt đẹp nhất cho họ. Đó là cách sống tương quan giúp người khác cũng trở nên ân cần và yêu thương hơn — đối với chính mình, đối với tha nhân và đối với Thiên Chúa. Như thánh Phaolô nói với các tín hữu Thêxalônica hôm nay:
…Anh em biết, khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh em. Còn anh em, anh em đã bắt chước chúng tôi, và bắt chước Chúa…
Đó là cốt lõi của mọi công cuộc loan báo Tin Mừng. Vấn đề không chỉ là làm cho người ta “trở đạo”, đưa họ đến giếng rửa tội để trở thành người Công giáo. Đúng hơn, đó là nhẹ nhàng dẫn dắt để họ gặp được Thiên Chúa, Đấng yêu thương họ, và tìm thấy Người khi yêu thương những người chung quanh.
Cách tôi đối xử với chính mình trở thành cách tôi đối xử với người khác, và ngược lại. Và tất cả chúng ta cùng đến với Thiên Chúa, như Người đến với chúng ta — trong tình yêu.
Sống Lời Chúa
“Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,39). Lời Chúa hôm nay mời tôi nhìn lại cách mình yêu thương: Tôi có đón nhận bản thân với lòng biết ơn và sự chân thành không? Tôi có chăm chút việc đạo đức nhưng lại thờ ơ trước nỗi khó khăn của người bên cạnh không? Tình yêu dành cho Thiên Chúa cần trở thành sự quan tâm cụ thể đối với con người.





