Chúng ta đã trở nên quen thuộc với hai thành phố được nhắc đến trong bài Tin Mừng hôm nay là Tia và Xiđôn. Không chỉ là những thành phố cổ xưa, ngày nay đây vẫn là những thành phố nằm dọc bờ biển miền Nam Liban. Chúng đã bị cuốn vào cuộc chiến diễn ra dữ dội tại miền Nam Liban, khiến rất nhiều thường dân thiệt mạng và một số lượng còn lớn hơn phải rời bỏ nhà cửa của mình.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đang ở vùng Tia và Xiđôn, khá xa nơi Người thường sinh sống và hoạt động tại Galilê, miền Bắc Israel. Có lẽ Người đã đến đó cùng với một số môn đệ để có chút thời gian và không gian nghỉ ngơi, tạm xa công việc mục vụ bận rộn ở Galilê, nơi Người đang gặp phải sự chống đối mạnh mẽ từ các nhà lãnh đạo tôn giáo. Đây là vùng mà người Do Thái chỉ chiếm thiểu số, còn dân ngoại thì đông hơn. Đức Giêsu có thể nghĩ rằng ở đây Người sẽ không bị quấy rầy.
Thế nhưng, trong cuộc sống, những chuyến đi chúng ta thực hiện thường không diễn ra như mình mong đợi. Nếu Đức Giêsu muốn có một khoảng thời gian yên tĩnh bên các môn đệ, thì điều ấy đã không xảy ra. Một người phụ nữ dân ngoại bất ngờ xuất hiện và kêu lớn với Người: “Lạy Ngài là Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”
Nhìn chung, các sách Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu luôn đáp lại những ai kêu cầu Người trong cảnh khốn cùng. Thế nhưng, lần này, trước những lời khẩn thiết của người phụ nữ tuyệt vọng ấy, Đức Giêsu lại im lặng.
Khi gặp phải sự im lặng của người khác, chúng ta thường rất khó hiểu được ý nghĩa của nó. Sự im lặng ấy muốn nói điều gì? Im lặng cũng là một hình thức giao tiếp, nhưng lại là một hình thức rất mơ hồ. Đôi khi, đối diện với sự im lặng của một người còn khó hơn khi họ thẳng thắn và thành thật nói rõ lập trường của mình.
Đức Giêsu không nói với người phụ nữ, nhưng Người lại nói với các môn đệ: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi.” Đức Giêsu hiểu rằng sứ mạng trước hết của Người hướng đến những người lạc mất, tan vỡ và bị bỏ rơi trong dân Israel. Chỉ sau khi sống lại từ cõi chết, Người mới trao cho các môn đệ sứ mạng đem Tin Mừng đến với mọi dân tộc, cả người Do Thái lẫn dân ngoại.
Thế nhưng, sự im lặng của Đức Giêsu không thể làm người mẹ ấy im tiếng. Bà tiến đến gần Người, quỳ xuống dưới chân Người và van xin: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!”
Chính con gái bà là người cần được cứu giúp, nhưng người mẹ ấy gắn bó sâu xa với con đến mức lời cầu xin cho con cũng trở thành lời cầu xin cho chính mình: “Xin cứu giúp tôi!” Khi chúng ta thật sự yêu thương một người, những gì làm họ đau khổ cũng khiến chúng ta đau khổ; nỗi đau của họ trở thành nỗi đau của chúng ta, và tiếng kêu cứu của họ cũng trở thành tiếng kêu cứu của chính chúng ta.
Cuối cùng, tình yêu sâu đậm của người mẹ dành cho cô con gái cùng với niềm tin kiên vững của bà vào Đức Giêsu đã phá vỡ sự im lặng của Người, khiến Người phải lên tiếng. Tuy nhiên, lời Người nói ra dường như chẳng đem lại chút an ủi nào cho người mẹ đang tuyệt vọng ấy. Đức Giêsu dùng một dụ ngôn nhỏ: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.”
Nói cách khác, với tư cách là người mục tử, trước hết Đức Giêsu phải nuôi dưỡng đoàn chiên Israel bằng bánh tình yêu của Thiên Chúa; vào thời điểm ấy, họ là ưu tiên trong sứ mạng của Người.
Thế nhưng, người phụ nữ đã có đủ sự nhanh trí và sáng suốt để dùng chính hình ảnh của Đức Giêsu nhằm trình bày lời khẩn cầu của mình: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”
Nói cách khác, vì trẻ nhỏ thường ăn uống không mấy gọn gàng, nên đôi khi cả chúng lẫn những con chó nuôi trong nhà đều được ăn cùng lúc. Vậy thì, chẳng lẽ những con chiên lạc của Israel và những người dân ngoại đang lạc mất lại không thể cùng được nuôi dưỡng hay sao?
Đức Giêsu dành cho bà một lời khen tuyệt vời: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật!”, rồi Người đáp lại lời cầu xin của bà. Trong Tin Mừng Matthêu, Đức Giêsu thường gọi các môn đệ là những người “kém lòng tin”. Thế nhưng, đây là lần duy nhất trong Tin Mừng này Người nói với một người rằng họ có “lòng tin mạnh thật”.
Đức Giêsu đã gặp thấy một đức tin lớn lao ở nơi Người ít ngờ nhất. Nơi người phụ nữ dân ngoại này có một chiều sâu đức tin vào Đức Giêsu mà chính các môn đệ của Người nhiều khi lại thiếu. Sự kết hợp giữa tình yêu của một người mẹ dành cho đứa con gái đang đau khổ và niềm tin sâu xa của bà vào Đức Giêsu đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa Đức Giêsu và dân ngoại mà lúc ấy Người vẫn ý thức rất rõ.
Sự kết hợp giữa tình yêu dành cho tha nhân và niềm tin vào Chúa thường có sức mạnh như thế. Và nơi Đức Giêsu, sự kết hợp ấy hiện diện trọn vẹn hơn bất cứ con người nào khác. Trái tim Người hướng đến tất cả mọi người, và Người luôn trung thành với Thiên Chúa, ngay cả khi sự trung thành ấy dẫn Người đến cái chết khi tuổi đời còn trẻ.
Người đã sống, đã chết và đã sống lại để phá đổ những bức tường ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, nô lệ và người tự do, nam và nữ, dân ngoại và người Do Thái, nhằm hình thành một cộng đoàn mới, nơi mọi người đều được trân trọng như những người con trai và con gái yêu dấu của Thiên Chúa. Cộng đoàn mới ấy được gọi là Hội Thánh.
Tuy nhiên, bài Tin Mừng hôm nay gợi lên rằng chính người mẹ dân ngoại này đã thúc đẩy Đức Giêsu đưa thời điểm hình thành cộng đoàn mới ấy đến sớm hơn, một cộng đoàn trong đó những chia rẽ của thời đại sẽ được vượt qua. Đức Giêsu nhận ra rằng Thiên Chúa đang nói với Người qua người phụ nữ đầy yêu thương và đức tin này.
Thiên Chúa và Người Con Phục Sinh của Người cũng thường nói với chúng ta bằng những cách không ngờ, qua những con người mà có lẽ chúng ta chẳng bao giờ nghĩ rằng họ có thể trở thành tiếng nói của Thiên Chúa. Như Đức Giêsu, chúng ta cần giữ tâm hồn mình luôn rộng mở trước những cách thức đầy bất ngờ mà Thiên Chúa dùng để đánh động và dẫn dắt chúng ta.