Thứ Hai Tuần XXVII – Mùa Thường Niên
Gl 1,6-12 • Tv 110,1-2.7-8.9 và 10c (Đ. c.5b) • Lc 10,25-37
Ai là người thân cận của tôi ?
✠ Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca
25 Khi ấy, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” 26 Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” 27 Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” 28 Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”
29 Tuy nhiên, ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” 30 Đức Giê-su đáp: “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. 31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia mà đi. 32 Rồi một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, thấy thế, cũng tránh qua bên kia mà đi. 33 Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới chỗ nạn nhân, thấy vậy thì động lòng thương. 34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. 35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.’ 36 Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” 37 Người thông luật trả lời : “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”
Chú giải Tin Mừng Lc 10,25–37
Khi cùng Đức Giêsu bước đi trên hành trình Người đã dứt khoát hướng về Giêrusalem, chúng ta gặp câu chuyện tuyệt đẹp này, chỉ được ghi lại trong Tin Mừng Luca. Hãy thử hình dung chúng ta sẽ mất mát biết bao nếu Tin Mừng này không được lưu truyền! Và qua bao thế kỷ, liệu chúng ta còn đánh mất những kho tàng nào khác về Đức Giêsu?
Tin Mừng kể rằng một nhà thông luật đến gặp Đức Giêsu, với ý định đặt Người vào thế phải chống đỡ và có lẽ khiến Người nói điều trái với giáo huấn của Lề Luật. Không rõ đây chỉ là một lần thử thách riêng lẻ hay là một phần của âm mưu. Câu hỏi nghe có vẻ đơn giản, thuộc loại câu hỏi mà bất cứ ai cũng có thể đặt ra cho một vị thầy tôn giáo:
“Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”
Như thường thấy, Đức Giêsu đặt câu hỏi ngược lại cho người đang chất vấn mình. Thực ra, là một nhà thông luật, ông hẳn đã biết câu trả lời, nên Đức Giêsu hỏi ông hiểu thế nào.
Ông trả lời đúng như người ta có thể chờ đợi nơi một nhà thông luật: không dùng lời riêng của mình, nhưng trích dẫn hai đoạn trong bộ Ngũ Thư, thuộc sách Đệ nhị luật và sách Lêvi, dạy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, và yêu người thân cận như chính mình. Đức Giêsu đáp:
“Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”
Tuy nhiên, ông vẫn chưa thoả mãn:
“Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: ‘Nhưng ai là người thân cận của tôi?’”
Đối với ông, dĩ nhiên “người thân cận” chỉ có nghĩa là những người Do Thái như ông. Nhưng liệu có bao gồm mọi người Do Thái, kể cả những người không tuân giữ Lề Luật không? Ông có phải yêu thương cả những người ấy nữa không?
Câu trả lời của Đức Giêsu hẳn đã khiến ông ngạc nhiên, nếu không muốn nói là sửng sốt. Người trả lời bằng một câu chuyện mang hình thức dụ ngôn, mà chúng ta quen gọi là dụ ngôn người Samari nhân hậu. Trong mắt phần đông người Do Thái thời ấy, cách gọi này tự nó đã là một điều mâu thuẫn, bởi nhân vật được nói đến là một người Samari. Nó chẳng khác nào nói một người là “kẻ khủng bố tốt lành”.
Để câu chuyện có đầy đủ ý nghĩa, rất có thể người bị bọn cướp tấn công và bỏ lại nửa sống nửa chết trên đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô là một người Do Thái. Con đường này dài khoảng 30 km, đi từ độ cao khoảng 800 mét trên mực nước biển xuống khoảng 150 mét dưới mực nước biển. Đường chạy qua vùng đất hoang vu, đầy đá, tạo nhiều chỗ cho bọn cướp ẩn nấp và phục kích những khách bộ hành không đề phòng.
Trong câu chuyện, có ba người nhìn thấy người bị thương nằm đó. Hai người trong số ấy là những người phục vụ tôn giáo, những người được trông đợi là sẽ yêu mến Thiên Chúa và yêu thương người thân cận. Thế nhưng cả hai đều thận trọng tránh sang bên kia mà đi. Rất có thể họ đang đi theo hướng ngược lại, nghĩa là từ Giêrikhô lên Giêrusalem và Đền Thờ. Người bị thương hẳn bê bết máu. Một người định đến Đền Thờ cầu nguyện sẽ không dám để mình bị ô uế theo nghi thức do tiếp xúc với máu. Nói cách khác, họ bỏ mặc người ấy vì những lý do tôn giáo.
Nhưng rồi một người Samari đi ngang qua. Trong mắt người Do Thái, ông là một người ngoại tộc và lạc giáo. Giữa hai dân tộc láng giềng này có sự thù nghịch sâu sắc, bắt nguồn từ những yếu tố lịch sử, địa lý, chủng tộc và tôn giáo. Người Samari bị coi là “lai tạp” cả về huyết thống lẫn đời sống đức tin. Họ có quan hệ gần gũi về nguồn gốc dân tộc và cùng chia sẻ một số niềm tin của người Do Thái, nhưng vẫn bị xem là những người lạc giáo, những người “Do Thái nửa vời”. Chúng ta nhớ người phụ nữ Samari bên giếng Giacóp đã ngạc nhiên thế nào khi Đức Giêsu nói chuyện với chị, trong khi theo lẽ thường, Người được cho là sẽ phớt lờ chị.
Người ngoài bị khinh miệt này, vốn bị cho là chẳng có chút tinh thần thương xót và cảm thông của Thiên Chúa, lại quan tâm đến người Do Thái đang nằm dưới đất, điều mà hai người có tinh thần đạo giáo kia đã từ chối làm. Thực ra, người Samari đã tận tình chăm sóc người bị thương, không tiếc công sức hay tiền bạc. Hai quan tiền có vẻ không nhiều, nhưng tương đương với hai ngày công và có thể đủ để nuôi một người đến hai tháng tại một quán trọ ven đường.
Ngày nay, chúng ta khó hình dung câu chuyện ấy đã tác động mạnh mẽ thế nào đến một người Do Thái giữ đạo theo truyền thống, huống chi một nhà thông luật. Trong thế giới hiện nay, câu chuyện ấy có thể giống như một chiến binh Palestine đến cứu giúp một người lính Israel, hoặc ngược lại. Có lẽ bạn cũng có thể nghĩ đến những ví dụ gần gũi hơn trong hoàn cảnh của mình.
Câu hỏi của Đức Giêsu rất đáng chú ý:
“Theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”
Câu trả lời của nhà thông luật cũng đáng chú ý không kém:
“Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.”
Như vậy, câu trả lời cho câu hỏi “Ai là người thân cận của tôi?” không chỉ là “mọi người”, như chúng ta đã học trong giáo lý, dù điều đó đúng. Câu trả lời của Đức Giêsu là: người thân cận là người biết cảm thương và giúp đỡ một người khác đang gặp cảnh khốn khó, bất kể người giúp đỡ hay người được giúp là ai. Điều quan trọng không chỉ là nhìn nhận mọi người khác là người thân cận của mình, nhưng hơn nữa, là chính mình chủ động trở nên người thân cận của người khác. Chúng ta làm điều đó dựa trên nhu cầu của họ, chứ không dựa trên chủng tộc, quốc tịch, nghề nghiệp, giới tính, màu da hay niềm tin. Và có ai lại không cần được yêu thương và cảm thông?
Cuối cùng, để trả lời câu hỏi mang tính lý thuyết và thần học “Ai là người thân cận của tôi?”, Đức Giêsu không đưa ra một định nghĩa hay chỉ cho nhà thông luật biết người thân cận của ông là ai. Người bảo ông:
“Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”
Nói cách khác, hãy đi và trở nên người thân cận.
Câu chuyện còn đem đến cho chúng ta một bài học khác về những định kiến đối với các nhóm người. Người Do Thái có cái nhìn tiêu cực về người Samari, và có lẽ người Samari cũng nhìn người Do Thái như vậy. Thế giới hôm nay đầy những định kiến. Chúng ta có những khuôn mẫu có sẵn về hầu như mọi chủng tộc, dân tộc, màu da, giới tính và khuynh hướng chính trị. Những khuôn mẫu ấy có thể ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ của chúng ta, thường là một cách vô thức.
Về phương diện dân tộc, mỗi dân tộc quả thật có thể có những nét đặc trưng dễ nhận ra — người Do Thái, Ý, Ireland, Đức, Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, các dân tộc châu Phi — hình thành từ ngôn ngữ và truyền thống. Nhưng từ đó mà gán những đặc điểm khái quát ấy cho mọi thành viên trong một nhóm là một bước suy luận thiếu hợp lý. Chúng ta không thể nói một cách bao quát rằng: “Người Ireland đều…”, “Người Trung Quốc đều…”, hay “Người châu Phi đều…”. Có quá nhiều ngoại lệ.
Mỗi người cần được gặp gỡ và nhìn nhận như một cá nhân riêng biệt. Trong bất cứ nhóm nào, kể cả nhóm của chúng ta, cũng có người tốt, người xấu và người dửng dưng. Nhưng tất cả đều có một điểm chung: khi gặp cảnh khốn khó, họ phải có thể tin tưởng rằng mình sẽ được những người thân cận tốt lành giúp đỡ.
Nguồn: https://sacredspace.com/commentary/o2272g/
Sống Lời Chúa
Người Samari nhân hậu đã dừng lại, đến gần và chăm sóc người bị nạn. Hôm nay, tôi có thể gặp một người đang cần được lắng nghe, một người bệnh cần được thăm hỏi, hay một người thân đang âm thầm chịu đựng nỗi buồn. Tôi có sẵn lòng dành thời gian cho họ, hay viện lý do bận rộn để bước qua? Tôi hãy chọn một việc cụ thể: gọi điện hỏi thăm, kiên nhẫn lắng nghe hoặc giúp đỡ một người mà tôi thường tránh né. Tình yêu dành cho Chúa được thể hiện qua cách tôi đối xử với anh chị em.





