• Lời Chúa mỗi ngày
  • Lời Mục Tử
    • Các Bài Giáo Lý Của ĐTC Lêô XIV
    • Tài Liệu – Văn Kiện
  • Học Hỏi Phúc Âm Chúa Nhật
  • Suy niệm Mùa Chay
  • Bài viết
    • Sống sao cho đẹp
    • Đời sống gia đình
    • Câu chuyện hàng tuần
    • Chia sẻ
    • Tư liệu
      • Âm nhạc
      • Tủ sách
  • Hoạt động GĐVSĐT
  • Giới thiệu
  • Tủ Sách
Thứ Bảy, 7 Tháng 3 , 2026
Gia Đình Vui Sống Đức Tin
No Result
View All Result
No Result
View All Result
Gia Đình Vui Sống Đức Tin
No Result
View All Result
  • Lời Chúa mỗi ngày
  • Lời Mục Tử
  • Học Hỏi Phúc Âm Chúa Nhật
  • Suy niệm Mùa Chay
  • Bài viết
  • Hoạt động GĐVSĐT
  • Giới thiệu
  • Tủ Sách

TÔNG THƯ IN UNITATE FIDEI
(TRONG SỰ HIỆP NHẤT CỦA ĐỨC TIN)

28/11/2025
TÔNG THƯ IN UNITATE FIDEI  (TRONG SỰ HIỆP NHẤT CỦA ĐỨC TIN)

LEO XIV

TÔNG THƯ
IN UNITATE FIDEI
(Trong sự hiệp nhất của đức tin)
VỀ KỶ NIỆM 1700 NĂM CÔNG ĐỒNG NICÊA

1. Trong sự hiệp nhất của đức tin, vốn đã được tuyên xưng ngay từ buổi khởi đầu của Giáo Hội, các Kitô hữu được kêu gọi bước đi trong hòa hợp, gìn giữ và truyền đạt hồng ân họ đã lãnh nhận với tình yêu và niềm hoan hỷ. Điều này được diễn tả trong những lời của Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa… vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế”, những lời đã được Công đồng Nicêa – Công đồng Chung đầu tiên trong lịch sử Kitô giáo – soạn thảo cách đây 1700 năm.

Khi tôi chuẩn bị cho Chuyến Tông du đến Thổ Nhĩ Kỳ, tôi ước mong Tông Thư này khích lệ toàn thể Giáo Hội canh tân lòng nhiệt thành đối với việc tuyên xưng đức tin. Suốt nhiều thế kỷ, lời tuyên xưng đức tin bền vững này đã là gia sản chung của các Kitô hữu, và thật xứng đáng để được tuyên xưng và được hiểu theo những cách thức luôn mới mẻ và phù hợp với thời đại. Vì mục đích đó, một văn kiện quan trọng của Ủy ban Thần học Quốc tế đã được phê chuẩn: “Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ. Kỷ niệm 1700 năm Công đồng Chung Nicêa”. Tôi nhắc đến văn kiện này vì nó cung cấp những điểm nhìn quý giá cho việc học hỏi tầm quan trọng và tính thời sự của Công đồng Nicêa, không chỉ trong chiều kích thần học và Giáo Hội, mà còn trong chiều kích văn hoá và xã hội.

2. “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”: với những lời này, thánh Máccô mở đầu sách Tin Mừng của ngài, tóm lược toàn bộ sứ điệp nơi khẳng định về thiên tính làm Con Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Tương tự, Tông đồ Phaolô ý thức rằng ngài được kêu gọi rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa về Con của Người, Đấng đã chết và đã sống lại vì chúng ta (x. Rm 1,9). Thật vậy, chính Đức Giêsu là tiếng “xin vâng” dứt khoát của Thiên Chúa đối với các lời hứa của các ngôn sứ (x. 2 Cr 1,19-20). Nơi Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời vốn là Thiên Chúa từ trước muôn đời và nhờ Người mọi sự được tạo thành – như lời tựa Tin Mừng theo thánh Gioan nói – đã “trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Nơi Người, Thiên Chúa đã trở nên Đấng thân cận với chúng ta, đến độ bất cứ điều gì chúng ta làm cho một người anh chị em nào, là chúng ta làm cho chính Người (x. Mt 25,40).

Trong Năm Thánh này, được dành để suy niệm về chủ đề Đức Kitô, niềm hy vọng của chúng ta, thật là một trùng hợp đầy quan phòng khi chúng ta đồng thời cũng cử hành kỷ niệm 1700 năm Công đồng Chung Nicêa lần thứ nhất, Công đồng đã tuyên xưng, vào năm 325, đức tin nơi Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Đây là tâm điểm của đức tin Kitô giáo. Cho đến ngày nay, trong mỗi Thánh lễ Chúa nhật, chúng ta vẫn đọc Kinh Tin Kính Nicêa-Constantinopolis, tức là lời tuyên xưng đức tin liên kết mọi Kitô hữu. Trong những thời khắc khó khăn mà chúng ta đang sống, giữa biết bao lo âu và sợ hãi, những đe dọa chiến tranh và bạo lực, thiên tai, những bất công và mất cân bằng trầm trọng, và nạn đói khổ, cùng quẫn của hàng triệu anh chị em chúng ta, Kinh Tin Kính này trở thành nguồn hy vọng cho chúng ta.

3. Thời đại của Công đồng Nicêa cũng chẳng kém phần xáo trộn. Khi Công đồng bắt đầu vào năm 325, những vết thương do các cuộc bách hại Kitô hữu gây ra vẫn còn rất nhức nhối. Sắc chỉ Milan (năm 313), do hai hoàng đế Constantinus và Licinius ban hành, dường như đã báo hiệu bình minh của một kỷ nguyên hoà bình mới. Tuy nhiên, ngay sau những đe doạ từ bên ngoài, những tranh chấp và xung đột lại nhanh chóng bùng lên bên trong lòng Giáo Hội.

Ariô, một linh mục ở Alexandria, bên Ai Cập, đã dạy rằng Đức Giêsu không thật sự là Con Thiên Chúa. Dù được coi là hơn hẳn một thụ tạo đơn thuần, Người vẫn bị xem là một hữu thể trung gian giữa Thiên Chúa – Đấng khôn dò và vượt trên mọi sự – với nhân loại. Hơn nữa, theo đó thì đã có một thời điểm mà Ngôi Con “chưa hiện hữu”. Cách hiểu này phù hợp với não trạng triết học đang thịnh hành thời bấy giờ, nên thoạt nhìn có vẻ khả tín.

Tuy nhiên, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi Giáo Hội của Người. Người luôn luôn cho trỗi dậy những người nam và người nữ can đảm, làm chứng cho đức tin, cũng như những vị mục tử dẫn dắt dân Người và chỉ cho họ con đường của Tin Mừng. Đức Giám mục Alexander thành Alexandria nhận ra rằng giáo thuyết của Ariô hoàn toàn không phù hợp với Thánh Kinh. Vì Ariô không tỏ ra thiện chí hoà giải, Alexander đã triệu tập một Thượng Hội đồng gồm các giám mục Ai Cập và Libya, và tại đây, giáo thuyết của Ariô đã bị kết án. Ngài cũng gửi thư cho các giám mục khác ở Đông phương, trình bày chi tiết về vụ việc này. Ở Tây phương, chính Đức Giám mục Hôsíô thành Cordoba, Tây Ban Nha, đã hành động. Ngài vốn đã tỏ mình là một chứng nhân kiên trung của đức tin trong thời bách hại dưới hoàng đế Maximianô và được Giám mục Rôma, là Đức Giáo hoàng Sylvester, tín nhiệm.

Tuy nhiên, những người ủng hộ Ariô cũng tập hợp lại với nhau. Điều này dẫn đến một trong những khủng hoảng lớn lao nhất trong thiên niên kỷ đầu của Giáo Hội. Lý do gây tranh chấp không phải là một chi tiết nhỏ nhặt. Nó chạm đến chính cốt lõi của đức tin Kitô giáo, cụ thể là câu trả lời cho câu hỏi quyết định mà Đức Giêsu đã đặt ra cho các môn đệ tại Xêdarê Philipphê: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16,15).

4. Khi cuộc tranh luận ngày càng căng thẳng, Hoàng đế Constantinus nhận ra rằng sự hiệp nhất của Giáo Hội – và quả thật là cả Đế quốc – đang bị đe dọa. Vì thế, ngài triệu tập tất cả các giám mục đến một công đồng mang tính đại kết, tức công đồng “phổ quát”, tại Nicêa, nhằm khôi phục sự hiệp nhất. Thượng Hội đồng này, được gọi là “Thượng Hội đồng của 318 Nghị phụ”, do chính Hoàng đế chủ tọa, và số lượng giám mục tụ hội đông đảo đến mức chưa từng có trước đó. Một số vị vẫn còn mang trên thân thể những dấu tích tra tấn trong thời bách hại. Đại đa số các nghị phụ đến từ Đông phương, còn theo truyền thống thì chỉ có khoảng năm vị thuộc Tây phương. Đức Giáo hoàng Sylvester đã ủy thác trách nhiệm đại diện cho nhân vật có uy tín thần học sâu sắc là Đức Giám mục Hôsíô thành Cordoba, và còn sai thêm hai linh mục Rôma đi kèm.

5. Các Nghị phụ Công đồng đã làm chứng cho lòng trung thành của mình đối với Thánh Kinh và Thánh Truyền Tông Đồ, vốn được tuyên xưng trong bí tích Thánh Tẩy theo lệnh truyền của chính Chúa Giêsu: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Ở Tây phương, đã có nhiều bản tuyên xưng đức tin khác nhau, trong đó có bản được biết đến với tên gọi “Kinh Tin Kính các Thánh Tông Đồ”. [1] Tại Đông phương cũng có nhiều công thức tuyên xưng đức tin khi lãnh nhận Thánh Tẩy với cấu trúc tương tự. Ngôn ngữ được sử dụng không phải là những từ ngữ uyên bác hay phức tạp, nhưng – như về sau người ta nhận định – là diễn đạt một cách đơn sơ và dễ hiểu đối với những người đánh cá quanh Biển hồ Galilê.

Trong ánh sáng đó, Kinh Tin Kính Nicêa mở đầu với lời tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành… mọi sự hữu hình và vô hình.” [2] Như thế, các Nghị phụ xác tín niềm tin vào một mình Thiên Chúa duy nhất. Điểm này không hề gây tranh cãi trong Công đồng. Tuy nhiên, điều được bàn thảo là mệnh đề thứ hai, vốn cũng dựa trên ngôn ngữ Thánh Kinh và tuyên xưng một Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Tranh luận nảy sinh vì nhu cầu phải trả lời câu hỏi do Ariô đặt ra: danh xưng “Con Thiên Chúa” phải được hiểu thế nào, và làm sao có thể hòa hợp điều ấy với niềm tin độc thần của Kinh Thánh? Do đó, Công đồng đặt mục tiêu xác định ý nghĩa đúng đắn của đức tin vào Đức Giêsu như là “Con Thiên Chúa”.

Các Nghị phụ tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa bởi vì Người “đồng bản thể (ousia) với Chúa Cha… được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể (homooúsios) với Chúa Cha”. Đây là sự bác bỏ triệt để lập thuyết của Ariô. [3] Để diễn tả chân lý đức tin, Công đồng đã dùng hai từ ngữ – ousia và homooúsios – vốn không có trong Kinh Thánh. Dẫu vậy, Công đồng không hề có ý thay thế ngôn ngữ Kinh Thánh bằng triết học Hy Lạp. Trái lại, việc dùng hai thuật ngữ này nhằm diễn đạt cách rõ ràng đức tin Kinh Thánh và phân biệt nó với sai lầm của Ariô, vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa Hy Lạp hóa. Do đó, cáo buộc “Hy Lạp hóa” phải được quy cho giáo thuyết sai lạc của Ariô và các môn đệ ông, chứ không phải cho các Nghị phụ Nicêa.

Các Nghị phụ Nicêa kiên quyết bảo vệ tính độc thần Kinh Thánh và tính chân thật của mầu nhiệm Nhập Thể. Các ngài muốn khẳng định rằng Thiên Chúa duy nhất và chân thật không phải là Đấng xa vời và không thể tiếp cận, nhưng trái lại, Người đã đến gần chúng ta và gặp gỡ chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô.

6. Để diễn tả sứ điệp của mình bằng ngôn ngữ đơn sơ của Kinh Thánh và của phụng vụ – vốn quen thuộc với toàn thể Dân Thiên Chúa – Công đồng đã lấy lại một số cách diễn đạt từ công thức tuyên xưng đức tin khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy: “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật.” Công đồng ở đây đã đón nhận hình ảnh Kinh Thánh về ánh sáng: “Thiên Chúa là ánh sáng” (1 Ga 1,3; x. Ga 1,4-5). Cũng như ánh sáng lan toả và thông ban chính mình mà không bị giảm sút, thì Ngôi Con là “phản chiếu (apaugasma) vinh quang của Thiên Chúa và là ấn tín (character) của bản thể Người (hypostasis)” (x. Dt 1,3; 2 Cr 4,4). Ngôi Con nhập thể, Đức Giêsu, vì thế là ánh sáng của thế gian và là ánh sáng ban sự sống (x. Ga 8,12). Nhờ bí tích Thánh Tẩy, “mắt lòng” chúng ta được khai sáng (x. Ep 1,18), để chính chúng ta cũng trở nên ánh sáng cho trần gian (x. Mt 5,14).

Hơn nữa, Kinh Tin Kính tuyên xưng rằng Con là “Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”. Trong nhiều đoạn, Kinh Thánh phân biệt các ngẫu tượng vô hồn với Thiên Chúa hằng sống và chân thật. Thiên Chúa thật là Đấng nói và hành động trong lịch sử cứu độ: là Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp; là Đấng đã mạc khải cho Môsê nơi bụi gai cháy (x. Xh 3,14); là Đấng nhìn thấy nỗi khổ của dân, lắng nghe tiếng kêu than của họ, và dẫn dắt họ qua hoang địa bằng cột lửa (x. Xh 13,21); là Đấng nói với họ bằng tiếng sấm (x. Đnl 5,26) và chạnh lòng thương xót họ (x. Hs 11,8-9). Vì thế, các Kitô hữu được kêu gọi từ bỏ ngẫu tượng vô hồn để quay về với Thiên Chúa hằng sống và chân thật (x. Cv 12,25; 1 Tx 1,9). Chính tại Xêdarê Philipphê, Simon Phêrô tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16).

7. Kinh Tin Kính Nicêa không hình thành như một hệ thống lý thuyết triết học. Đó là lời tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cứu chuộc chúng ta nhờ Đức Giêsu Kitô. Đó là lời tuyên xưng về Thiên Chúa hằng sống, Đấng muốn chúng ta được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10). Vì lý do ấy, Kinh Tin Kính tiếp nối bằng những lời của công thức tuyên xưng đức tin khi lãnh nhận Thánh Tẩy: Ngôi Con Thiên Chúa, Đấng “vì loài người chúng tôi và để cứu độ chúng tôi… đã từ trời xuống thế, và đã làm người… chịu khổ hình… chịu chết… và ngày thứ ba sống lại… lên trời… và sẽ lại đến… để phán xét kẻ sống và kẻ chết.” Như vậy, hoàn toàn hiển nhiên rằng các khẳng định của Công đồng về đức tin vào Đức Kitô được đặt nền trên lịch sử cứu độ giữa Thiên Chúa và thụ tạo của Người.

Thánh Athanasiô – người đã tham dự Công đồng Nicêa với tư cách là phó tế của Đức Giám mục Alexander, và sau này kế nhiệm ngài làm Giám mục Alexandria tại Ai Cập – đã nhiều lần nhấn mạnh một cách sâu sắc chiều kích cứu độ của Kinh Tin Kính Nicêa. Ngài viết rằng Ngôi Con, Đấng từ trời xuống thế, “đã làm cho chúng ta trở nên con cái Chúa Cha và thần hóa (deificavit) nhân loại bằng cách chính Người trở nên người phàm. Vì thế, Người không phải là con người rồi mới trở nên Thiên Chúa; nhưng Người vốn là Thiên Chúa, rồi đã trở nên con người, để thần hóa chúng ta.” [4] Điều này chỉ có thể xảy ra nếu Ngôi Con thật sự là Thiên Chúa: bởi lẽ không một thụ tạo nào có thể chiến thắng sự chết và cứu độ chúng ta; chỉ duy Một Mình Thiên Chúa mới có thể thực hiện điều đó. Người đã giải thoát chúng ta nhờ Con của Người làm người, để chúng ta được tự do (x. Gl 5,1).

Điều đáng chú ý trong Kinh Tin Kính Nicêa là động từ descendit – “Người đã từ trời xuống thế”. Thánh Phaolô mô tả chuyển động này bằng những từ ngữ mạnh mẽ: “[Đức Kitô] đã tự hủy, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân” (Pl 2,7). Lời tựa Tin Mừng Gioan cũng nói rằng “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Thư gửi tín hữu Do Thái dạy rằng “chúng ta không có một vị Thượng Tế không biết cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi” (Dt 4,15). Trong đêm trước cuộc Thương khó, Người tự hạ mình như một người tôi tớ để rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,1–17). Chỉ khi được đặt tay mình vào cạnh sườn bị đâm thâu của Đấng Phục Sinh, Tông đồ Tôma mới có thể thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28).

Chính nhờ mầu nhiệm Nhập Thể mà giờ đây chúng ta gặp gỡ Chúa nơi những anh chị em túng thiếu: “Như các ngươi đã làm cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Kinh Tin Kính Nicêa không trình bày một vị Thiên Chúa xa vời, không thể tiếp cận, bất động trong sự siêu việt tuyệt đối, nhưng là một Thiên Chúa gần gũi, đồng hành với chúng ta trên hành trình trần thế, cả trong những nơi tối tăm nhất của nhân loại. Chính sự cao cả của Người được biểu lộ khi Người trở nên bé nhỏ, đặt sang một bên vinh quang vô biên của mình để trở thành Đấng thân cận trong những người bé mọn và nghèo hèn. Điều này đảo lộn hoàn toàn những quan niệm triết học và ngoại giáo về Thiên Chúa.

Một câu diễn tả khác của Kinh Tin Kính Nicêa cũng mang tính soi sáng đặc biệt cho thời đại chúng ta. Cụm từ Kinh Thánh “đã trở nên xác phàm” (became flesh) được làm rõ qua việc thêm từ “người phàm” (man) sau từ “nhập thể” (incarnate). Nhờ đó, Nicêa phủ nhận giáo thuyết sai lạc cho rằng Logos chỉ mặc lấy một thân xác như lớp vỏ bên ngoài mà không có linh hồn nhân loại – vốn mang nơi mình lý trí và tự do. Thay vào đó, Công đồng muốn khẳng định điều mà Công đồng Calcedonia (451) sau này sẽ tuyên bố rõ ràng: nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đã mặc lấy và cứu độ toàn thể nhân tính – cả thân xác lẫn linh hồn. Thánh Athanasiô giải thích rằng Ngôi Con Thiên Chúa đã làm người để con người được thần hoá. [5] Cách hiểu sâu xa này về mặc khải đã được chuẩn bị bởi Thánh Irênê thành Lyon và Origen, và được triển nở phong phú trong linh đạo Đông phương.

Thần hoá (divinization) hoàn toàn không có nghĩa con người “tự thân thánh hoá” mình. Ngược lại, thần hoá bảo vệ chúng ta khỏi cám dỗ nguyên thủy muốn “trở nên như Thiên Chúa” (x. St 3,5). Những gì Đức Kitô là do bản tính, chúng ta trở thành nhờ ân sủng. Qua công trình cứu chuộc, Thiên Chúa không chỉ phục hồi phẩm giá của chúng ta như hình ảnh của Người, mà còn, Đấng đã tạo dựng chúng ta cách kỳ diệu, nay lại cho chúng ta được thông phần bản tính thần linh của Người cách lạ lùng hơn (x. 2 Pr 1,4).

Thần hoá chính là sự nên trọn vẹn của con người (được trở nên “thật là người”). Bởi đó, hiện hữu của con người luôn hướng vượt lên, tìm kiếm vượt lên, khao khát vượt lên, và chỉ được nghỉ yên trong Thiên Chúa. [6] “Deus enim solus satiat – chỉ mình Thiên Chúa mới thoả mãn được con người.” [7] Chỉ Thiên Chúa, trong sự vô biên của Người, mới đáp ứng được ước vọng vô biên của trái tim con người. Và chính vì thế, Ngôi Con Thiên Chúa đã chọn trở nên anh em của chúng ta và Đấng cứu chuộc chúng ta.

8. Như đã nói, Công đồng Nicêa đã dứt khoát bác bỏ các lạc thuyết của Ariô. Thế nhưng, Ariô và các môn đệ ông không hề bỏ cuộc. Bản thân Hoàng đế Constantinus và các hoàng đế kế vị ngày càng tỏ ra ủng hộ phe Ariô. Thuật ngữ homooúsios trở thành điểm gây tranh cãi gay gắt giữa phe Nicêa và phe chống Nicêa, làm bùng lên những xung đột trầm trọng khác. Thánh Basiliô thành Caesarea mô tả sự hỗn loạn này một cách hùng hồn, ví nó như một trận thủy chiến trong đêm tối giữa cơn bão dữ. [8] Còn Thánh Hilariô thì làm chứng rằng giáo dân vẫn giữ được đức tin chính thống hơn nhiều giám mục theo thuyết Ariô, đến nỗi ngài thốt lên: “Lỗ tai của dân chúng thánh thiện hơn lòng trí của các linh mục.” [9]

Thánh Athanasiô trở thành trụ cột kiên định của Kinh Tin Kính Nicêa nhờ đức tin sắc đá và lòng kiên trì bất khuất của ngài. Dù bị phế truất và trục xuất khỏi toà Giám mục Alexandria đến năm lần, ngài vẫn quay trở lại mỗi lần và tiếp tục thi hành sứ vụ mục tử. Ngay cả khi lưu đày, ngài vẫn hướng dẫn Dân Chúa qua các thư từ và trước tác của mình. Như Môsê, Athanasiô không được nhìn thấy miền đất hứa là nền hoà bình Giáo Hội; ân huệ ấy dành cho thế hệ kế tiếp – được gọi tại một số nơi là “thế hệ Nicêa”. Ở Đông phương, thế hệ này gồm ba vị Đại Giáo phụ Cappadocia: Thánh Basiliô Cả (khoảng 330–379), người được tôn xưng là “Cả”; em ruột ngài là Thánh Grêgôriô thành Nyssa (335–394); và bạn thân nhất của Basiliô là Thánh Grêgôriô Nazianzênô (329/30–390). Ở Tây phương, những nhân vật quan trọng gồm Thánh Hilariô thành Poitiers (k. 315–367), môn sinh của ngài là Thánh Martinô thành Tours (k. 316–397), và nhất là Thánh Ambrôsiô thành Milan (333–397) cùng Thánh Augustine thành Hippo (354–430).

Đóng góp đặc biệt của ba vị Cappadocia là đưa đến chỗ hoàn tất công thức của Kinh Tin Kính Nicêa bằng cách chỉ ra rằng nơi Thiên Chúa, Hiệp nhất và Ba Ngôi không hề mâu thuẫn nhau. Tiến trình này dẫn đến việc hình thành mệnh đề đức tin liên quan đến Chúa Thánh Thần tại Công đồng Constantinopolis I (381). Nhờ đó, Kinh Tin Kính mang tên “Kinh Tin Kính Nicêa–Constantinopolis”, và tuyên xưng rằng: “Tôi tin kính Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống; Người bởi Chúa Cha mà ra; Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con; Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.” [10]

Tại Công đồng Calcedonia (451), Công đồng Constantinopolis được công nhận là đại kết, và Kinh Tin Kính Nicêa–Constantinopolis được tuyên bố mang tính ràng buộc phổ quát. [11] Nhờ đó, bản Kinh Tin Kính này trở thành mối dây hiệp nhất giữa Đông và Tây. Vào thế kỷ XVI, các cộng đoàn Kitô giáo phát sinh từ phong trào Cải cách cũng tiếp tục giữ bản tuyên xưng đức tin này. Như vậy, Kinh Tin Kính Nicêa–Constantinopolis là lời tuyên xưng chung của mọi truyền thống Kitô giáo.

9. Con đường khởi đi từ Thánh Kinh và dẫn đến lời tuyên xưng đức tin của Công đồng Nicêa – rồi được Công đồng Constantinopolis và Công đồng Calcedonia tiếp nhận, và lại được khẳng định trong các thế kỷ XVI và XXI – là một hành trình dài và liên tục. Tất cả chúng ta, với tư cách môn đệ Đức Giêsu Kitô, đều được rửa tội “nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Chúng ta ghi dấu thánh giá trên mình và được chúc lành. Chúng ta kết thúc mỗi thánh vịnh trong Phụng vụ Giờ Kinh bằng lời tung hô: “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần.” Cả phụng vụ lẫn đời sống Kitô hữu đều được neo chặt nơi Kinh Tin Kính Nicêa–Constantinopolis: điều chúng ta tuyên xưng bằng miệng phải phát xuất từ tâm hồn, để chúng ta làm chứng bằng chính đời sống mình. Vì thế, chúng ta phải tự vấn: Hôm nay, đời sống nội tâm của chúng ta đón nhận Kinh Tin Kính như thế nào? Chúng ta có cảm nghiệm rằng Kinh Tin Kính cũng chạm đến hoàn cảnh hiện tại của mình không? Chúng ta có hiểu và sống điều mình tuyên đọc mỗi Chúa nhật không? Những lời ấy có ý nghĩa gì đối với đời sống chúng ta?

10. Kinh Tin Kính Nicêa bắt đầu bằng lời tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng, Đấng tạo thành trời đất. Tuy nhiên, đối với nhiều người hôm nay, Thiên Chúa và câu hỏi về Thiên Chúa hầu như không còn chỗ đứng trong đời sống họ. Công đồng Vaticanô II chỉ ra rằng các Kitô hữu ít nhiều cũng có phần trách nhiệm trong tình trạng này, bởi vì họ đã không làm chứng cho đức tin đích thực; họ che khuất dung nhan thật của Thiên Chúa bằng những lối sống và hành động đi ngược lại Tin Mừng. [12] Nhân danh Thiên Chúa, đã có những cuộc chiến tranh được tiến hành, con người bị giết hại, bách hại và phân biệt đối xử. Thay vì loan báo một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, người ta lại trình bày một Thiên Chúa báo oán, gieo sợ hãi và trừng phạt.

Trong ý nghĩa đó, Kinh Tin Kính Nicêa mời gọi chúng ta xét mình. Thiên Chúa có ý nghĩa gì đối với tôi và tôi làm chứng cho niềm tin vào Người như thế nào? Thiên Chúa duy nhất có thật sự là Chúa của đời tôi không, hay tôi có những ngẫu tượng mà tôi đặt lên trên Thiên Chúa và các giới răn của Người? Đối với tôi, Thiên Chúa có phải là Thiên Chúa hằng sống, Đấng gần gũi trong mọi hoàn cảnh, là Cha để tôi đến với Người bằng lòng tín thác của người con không? Người có phải là Đấng Tạo Hoá, Đấng mà tôi mang ơn về tất cả những gì tôi là và tôi có, Đấng mà tôi nhận ra dấu ấn của Người trong mọi thụ tạo không? Tôi có sẵn sàng chia sẻ của cải trần gian – vốn thuộc về tất cả mọi người – một cách công bằng và hợp lẽ không? Tôi cư xử với công trình sáng tạo, tức là công trình tay Người làm, như thế nào? Tôi có khai thác và tàn phá nó, hay tôi sử dụng nó với lòng kính trọng và biết ơn, chăm sóc và vun trồng nó như ngôi nhà chung của nhân loại? [13]

11. Lời tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta và Thiên Chúa chúng ta, là trung tâm của Kinh Tin Kính Nicêa–Constantinopolis. Đây là trái tim của đời sống Kitô hữu chúng ta. Chính vì lý do ấy, chúng ta cam kết bước theo Đức Giêsu như Thầy, như Đấng đồng hành, như Anh Cả và như Người Bạn của mình. Tuy nhiên, Kinh Tin Kính Nicêa mời gọi chúng ta tiến xa hơn nữa: Kinh Tin Kính nhắc chúng ta đừng bao giờ quên rằng Đức Giêsu Kitô là Chúa (Kyrios), là Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta đã từ trời xuống thế” và đã “vì chúng ta” chịu chết trên thập giá, mở ra cho chúng ta con đường sự sống mới qua cuộc Phục Sinh và Lên Trời của Người.

Tự nhiên, việc bước theo Đức Giêsu Kitô không phải là một con đường rộng rãi và dễ dàng. Tuy nhiên, con đường đòi hỏi nhiều hy sinh — đôi khi thậm chí đau đớn — ấy lại luôn dẫn đến sự sống và ơn cứu độ (x. Mt 7,13–14). Sách Công vụ Tông đồ kể lại “con đường mới” (x. Cv 19,9.23; 22,4.14–15.22), chính là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 14,6). Bước theo Chúa tất yếu bao hàm việc bước theo con đường thập giá, con đường dẫn đến sự thánh hóa chúng ta và đến sự thần hoá (divinization) qua hoán cải và sám hối. [14]

Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta với tất cả hữu thể của Người, thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau. Chúng ta không thể nói rằng mình yêu Thiên Chúa – Đấng mà chúng ta không thấy – nếu không yêu người anh chị em mà chúng ta đang thấy (x. 1 Ga 4,20). Tình yêu dành cho Thiên Chúa mà không có tình yêu dành cho tha nhân thì chỉ là giả hình; còn tình yêu triệt để dành cho tha nhân, đặc biệt là yêu kẻ thù, mà không có tình yêu Thiên Chúa, thì lại đòi hỏi một “anh hùng tính” sẽ đè nặng và loại trừ chúng ta. Trong việc bước theo Đức Giêsu, hành trình tiến lên Thiên Chúa đi ngang qua hành trình cúi xuống chăm sóc anh chị em mình, nhất là những người bé mọn nhất, nghèo khó nhất, bị bỏ rơi và bị gạt ra bên lề. Điều chúng ta làm cho những người bé mọn ấy là làm cho chính Đức Kitô (x. Mt 25,31–46). Đối diện với thiên tai, chiến tranh và khốn cùng, chúng ta chỉ có thể làm chứng về lòng thương xót của Thiên Chúa cho những người đang nghi ngờ Người, khi chính họ cảm nghiệm được lòng thương xót của Người qua chúng ta. [15]

12. Sau cùng, Công đồng Nicêa vẫn còn mang tính thời sự hôm nay vì giá trị đại kết lớn lao của nó. Thật vậy, mục tiêu hiệp nhất mọi Kitô hữu là một trong những điểm chính yếu của Công đồng gần đây nhất – Công đồng Vaticanô II. [16] Chính xác 30 năm trước, thánh Gioan Phaolô II đã thúc đẩy mạnh mẽ hơn sứ điệp của Công đồng này trong Thông điệp Ut Unum Sint – Để tất cả nên một (25 tháng 5 năm 1995). Theo cách ấy, cùng với kỷ niệm trọng đại Công đồng Nicêa I, chúng ta cũng cử hành kỷ niệm của Thông điệp đại kết đầu tiên. Có thể xem đây như một bản tuyên ngôn cập nhật lại nền tảng đại kết mà Công đồng Nicêa đã khởi xướng.

Tạ ơn Chúa, phong trào đại kết đã đạt được nhiều tiến bộ trong 60 năm qua. Đúng là chúng ta vẫn chưa đạt được sự hiệp nhất hữu hình trọn vẹn với các Giáo Hội Chính Thống và Chính Thống Đông phương, cũng như với các cộng đoàn Giáo hội phát sinh từ cuộc Cải cách. Tuy nhiên, đối thoại đại kết, được thiết lập trên cùng một phép rửa và trên Kinh Tin Kính Nicêa–Constantinopolis, đã giúp chúng ta nhận biết các thành viên của những Giáo Hội và cộng đoàn Giáo hội khác như anh chị em của chúng ta trong Đức Giêsu Kitô, và khám phá lại cộng đoàn duy nhất mang tính hoàn vũ của các môn đệ Đức Kitô trên khắp thế giới. Chúng ta cùng chia sẻ một đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất, là Cha của mọi người; cùng tuyên xưng một Chúa duy nhất và là Con thật của Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô; và cùng tin vào một Chúa Thánh Thần duy nhất, Đấng hứng khởi và thúc đẩy tất cả chúng ta tiến đến sự hiệp nhất trọn vẹn và chứng tá chung cho Tin Mừng. Thật vậy, những gì hiệp nhất chúng ta thì lớn lao hơn rất nhiều những gì phân chia chúng ta! [17] Trong một thế giới đầy chia rẽ và bị xâu xé bởi bao xung đột, cộng đoàn Kitô giáo duy nhất và hoàn vũ có thể trở nên dấu chỉ hòa bình và khí cụ hòa giải, đóng vai trò quyết định trong công cuộc kiến tạo hoà bình toàn cầu. Thánh Gioan Phaolô II đặc biệt nhắc đến chứng tá của vô số vị tử đạo Kitô hữu thuộc mọi Giáo Hội và cộng đoàn Giáo hội: ký ức về họ hiệp nhất chúng ta và thúc đẩy chúng ta cũng trở nên những chứng nhân và người kiến tạo hoà bình cho thế giới.

Để thi hành cách đáng tin cậy sứ vụ này, chúng ta phải cùng nhau tiến bước để đạt tới sự hiệp nhất và hoà giải giữa tất cả các Kitô hữu. Kinh Tin Kính Nicêa có thể trở thành nền tảng và điểm quy chiếu cho hành trình này. Công đồng cho chúng ta một mẫu gương của sự hiệp nhất đích thực trong sự đa dạng chính đáng: hiệp nhất trong Ba Ngôi, Ba Ngôi trong hiệp nhất; bởi vì hiệp nhất mà không có đa dạng thì trở thành áp bức, còn đa dạng mà không có hiệp nhất thì dẫn đến tan vỡ. Năng động Ba Ngôi không phải là một chọn lựa loại trừ “hoặc cái này hoặc cái kia”, nhưng là sự gắn kết mạnh mẽ “cả hai và cùng với nhau”. Chúa Thánh Thần là mối dây hiệp nhất, Đấng được chúng ta phụng thờ cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Vì thế, chúng ta phải gác lại đằng sau những tranh luận thần học đã mất ý nghĩa, để cùng phát triển một sự hiểu biết chung, và hơn thế nữa, một lời cầu nguyện chung với Chúa Thánh Thần, để Người quy tụ tất cả chúng ta trong một đức tin và một tình yêu duy nhất.

Điều này không có nghĩa là chủ trương một lối đại kết “quay trở lại” tình trạng trước khi xảy ra chia rẽ, cũng không phải là chấp nhận hỗn tạp hiện trạng đa dạng của các Giáo Hội và cộng đoàn Giáo hội. Đúng hơn, đó là một lối đại kết hướng về tương lai, tìm kiếm sự hoà giải qua đối thoại, đồng thời chia sẻ cho nhau những ân huệ và gia sản thiêng liêng của mỗi truyền thống. Việc tái lập hiệp nhất giữa các Kitô hữu không làm chúng ta nghèo đi; trái lại, nó làm cho chúng ta phong phú hơn. Như tại Nicêa, mục tiêu ấy chỉ có thể đạt được qua một hành trình kiên nhẫn, dài lâu và đôi khi khó khăn, hành trình của sự lắng nghe và đón nhận lẫn nhau. Đây là một thách đố thần học, và trên hết là một thách đố thiêng liêng, đòi hỏi sự sám hối và hoán cải nơi tất cả mọi người. Vì lý do đó, chúng ta cần đến đại kết thiêng liêng: cầu nguyện, chúc tụng và thờ phượng, như chính Kinh Tin Kính Nicêa–Constantinopolis diễn tả.

Vậy, chúng ta hãy khẩn xin Chúa Thánh Thần đồng hành và dẫn dắt chúng ta trong công trình này.

Lạy Chúa Thánh Thần của Thiên Chúa,
Chúa hướng dẫn các tín hữu trên hành trình lịch sử.

Chúng con cảm tạ Chúa đã linh hứng nên các Bản Tuyên Xưng Đức Tin,
và đã khơi lên trong tâm hồn chúng con niềm vui được tuyên xưng ơn cứu độ
nơi Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa,
Đấng đồng bản thể (homooúsios) với Chúa Cha.
Không có Người, chúng con không thể làm được gì.

Lạy Thánh Thần hằng hữu của Thiên Chúa,
xin canh tân đức tin của Hội Thánh qua từng thời đại.
Xin giúp chúng con đào sâu đức tin ấy
và luôn biết trở về với những điều cốt yếu,
để có thể loan báo đức tin ấy cách trung thành.

Để cho chứng tá của chúng con giữa trần thế không trở nên vô ích,
xin đến, lạy Chúa Thánh Thần,
với lửa ân sủng của Chúa,
để khơi dậy đức tin chúng con,
để thắp lên nơi chúng con niềm hy vọng,
để bừng cháy nơi chúng con lửa mến yêu.

Lạy Đấng An Ủi thần linh, suối nguồn hoà hợp,
xin hiệp nhất tâm trí và con tim của các tín hữu.
Xin đến và cho chúng con được nếm trải vẻ đẹp của sự hiệp thông.

Lạy Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con,
xin quy tụ chúng con vào một đoàn chiên duy nhất của Đức Kitô.
Xin chỉ cho chúng con những nẻo đường phải đi,
để nhờ sự khôn ngoan của Chúa,
chúng con trở nên đúng như điều chúng con là trong Đức Kitô:
một, để thế gian tin.
Amen.

Tại Vatican, ngày 23 tháng 11 năm 2025,
Lễ Trọng Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ.

LEO PP. XIV


CHÚ THÍCH

[1] L. H. Westra, The Apostles’ Creed. Origin, History and Some Early Commentaries, Turnhout 2002 (Instrumenta patristica et mediaevalia, 43).🡩

[2] Công đồng Nicêa I, Expositio fidei: CC COGD 1, Turnhout 2006, 19 6–8.🡩

[3] Thánh Athanasiô thành Alexandria, Contra Arianos, I, 9, 2 (ed. Metzler, Athanasius Werke, I/1,2, Berlin–New York 1998, 117–118).
Từ những trình bày của thánh Athanasiô trong Contra Arianos I, 9, rõ ràng rằng homooúsios không có nghĩa là “tương tự bản thể”, mà là “cùng một bản thể” với Chúa Cha; vì thế, không phải là sự tương đồng bản thể mà là sự đồng nhất bản thể giữa Chúa Cha và Chúa Con.
Bản dịch Latinh của homooúsios vì vậy đã đúng khi dịch là unius substantiae cum Patre – “cùng một bản thể với Chúa Cha”.🡩

[4] Thánh Athanasiô thành Alexandria, Contra Arianos, I, 38, 7 – 39, 1: ed. Metzler, Athanasius Werke, I/1,2, 148–149.🡩

[5] Thánh Athanasiô thành Alexandria, De incarnatione Verbi, 54, 3: SCh 199, Paris 2000, 458;
Cùng tác giả, Contra Arianos, I, 39; 42; 45; II, 59tt.: ed. Metzler, Athanasius Werke, I/1,2, 149; 152; 154–155; 235tt.🡩

[6] X. thánh Augustinô, Tự thú, I, 1: CCSL 27, Turnhout 1981, 1.🡩

[7] Thánh Tôma Aquinô, In Symbolum Apostolorum, art. 12: ed. Spiazzi, Thomae Aquinatis, Opuscula theologica, II, Taurini–Romae 1954, 217.🡩

[8] Thánh Basiliô, De Spiritu Sancto, 30.🡩

[9] Thánh Hilariô, Contra Arianos, vel Auxentium, 6.
Ghi nhận lời chứng của các Giáo phụ, nhà thần học uyên bác – sau này là Hồng y và nay là Thánh, Tiến sĩ Hội Thánh – John Henry Newman (1801–1890) đã nghiên cứu cuộc tranh luận này và kết luận rằng chính sensus fidei (cảm thức đức tin) của Dân Thiên Chúa đã gìn giữ Kinh Tin Kính Nicêa. X. On Consulting the Faithful in Matters of Doctrine (1859).🡩

[10] Công đồng Constantinopolis I, Expositio fidei: CC, Conc. Oec. Gen. Decr. 1, 57 20–24.
Công thức “bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra (Filioque)” không có trong bản văn Constantinopolis; công thức này được đưa vào bản Latinh của Kinh Tin Kính bởi Giáo hoàng Bênêđictô VIII năm 1014 và là đề tài đối thoại giữa Chính Thống giáo và Công Giáo.🡩

[11] Công đồng Calcedonia, Definitio fidei: CC, Conc. Oec. Gen. Decr. 1, 137 393–138 411.🡩

[12] Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et spes, 19: AAS 58 (1966), 1039.🡩

[13] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24.05.2015), 67; 78; 124: AAS 107 (2015), 873–874; 878; 897.🡩

[14] X. Đức Phanxicô, Tông huấn Gaudete et Exsultate (19.03.2018), 92: AAS 110 (2018), 1136.🡩

[15] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (03.10.2020), 67; 254: AAS 112 (2020), 992–993; 1059.🡩

[16] Công đồng Chung Vaticanô II, Sắc lệnh Unitatis Redintegratio, 1: AAS 57 (1965), 90–91.🡩

[17] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Ut Unum Sint (25.05.1995), 20: AAS 87 (1995), 933.🡩

Nguồn: https://www.vatican.va/content/leo-xiv/en/apost_letters/documents/20251123-in-unitate-fidei.html

Share124Tweet77

Related Posts

No Content Available

Tìm kiếm

No Result
View All Result

Cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha tháng 03/2026

Danh mục

© 2025 Gia Đình Vui Sống Đức Tin

No Result
View All Result
  • Home
    • Home – Layout 1
    • Home – Layout 2
    • Home – Layout 3

© 2025 Gia Đình Vui Sống Đức Tin